Vượt qua thói thủ dâm

Cha John Harvey quá cố, vị sáng lập tổ chức Courage, trình bày một bài viết với nhan đề “Thủ dâm, vấn đề mục vụ”. Từ bài viết này, bạn sẽ dần hiểu biết nguyên nhân cội rễ và các vấn đề đang tranh cãi xung quanh thói thủ dâm.

Nội dung

  1. Giới thiệu vấn đề
  2. Những suy xét về khía cạnh tâm lý liên quan đến thói thủ dâm
  3. Những yếu tố góp phần vào thói thủ dâm
  4. Vấn đề đạo đức của hành động thủ dâm
  5. Những suy xét về trách nhiệm cá nhân đối với hành động thủ dâm
  6. Thủ dâm, một hình thức nghiện tình dục
  7. Khác biệt giữa hành vi trong quá khứ và hiện tại
  8. Tự truyện 5 chương
  9. Tiếp cận mục vụ với vấn đề thủ dâm
  10. Một số hướng dẫn tâm linh
  11. Vấn đề thủ dâm trong đời sống vợ chồng
  12. Vấn đề thủ dâm nơi các chủng sinh
  13. Vấn đề thủ dâm nơi các linh mục và thầy tu
  14. Vấn đề thủ dâm nơi các nữ tu
  15. ĐTLA và vấn đề thủ dâm
  16. Sự khác biệt giữa hổ thẹn và tội lỗi
  17. Một vài đề nghị để thắng vượt hành động thủ dâm
  18. Tham vấn mục vụ cho các trẻ vị thành niên
  19. Hiểu biết thấu đáo về tâm linh đối với người đang bị chi phối bởi vấn đề thủ dâm
  20. Kết luận
  21. Tham khảo

——————————————————–

“…nhiều người đang chiến đấu với sự yếu hèn này. Họ không được hướng dẫn tinh thần và đạo đức đầy đủ. Trong vài trường hợp, họ được chỉ dẫn sai lầm rằng việc thủ dâm sẽ nâng cao biểu hiện hành vi vợ chồng hoặc đó là một phần trong quá trình hồi phục từ những trở ngại về tình dục. Một điều phổ biến hiện nay là thói thủ dâm đã xâm nhập vào mọi giai đoạn cuộc sống từ trẻ con cho tới người lớn tuổi. Nó xuất hiện ở trẻ em, thanh thiếu niên, người trưởng thành, người đã kết hôn, người già, các chức sắc tôn giáo, các chủng sinh và linh mục.”  Rev. John Harvey

——————————————————–

Vấn đề mục vụ liên quan đến thủ dâm
bài viết của Cha John F. Harvey, OSFS

1. Giới thiệu
Đã có nhiều bài viết nói về vấn đề thủ dâm nên có người sẽ hỏi tại sao lại thêm một nhà thần học nữa (ý nói một linh mục) thấy cần phải viết về đề tài này. Phải chăng đó không phải là những giả định để tin rằng có gì đó mới mẻ trong một vấn đề đã tồn tại hằng bao thế kỉ? Câu trả lời rằng đúng là có cái mới cần phải nói, ví dụ như phản ứng của người đời với cách nghĩ mới về vấn đề này, cũng như kinh nghiệm cá nhân khi tham vấn cho những người đang chiến đấu với thói thủ dâm. Trong cố gắng này, tôi đã tập hợp nhiều cái nhìn xuyên suốt liên quan đến khía cạnh tâm lý của vấn đề này từ nghiên cứu về chứng nghiện tình dục mà thủ dâm là một ví dụ điển hình.

Tôi cũng rất ấn tượng bởi những nhóm hỗ trợ tinh thần như nhóm Người nghiện tình dục ẩn danh (S.A và S.L.A.A), Người đồng tính ẩn danh (H.A) và nhóm ‘Lòng Dũng Cảm’, họ đã không xem nhẹ vấn đề này. Đó là một thay đổi đáng hoan nghênh kể từ khi lý thuyết của Ann Landers vốn xem thủ dâm là một hình thức trị liệu.

Một lý do khác giải thích vì sao tôi cố gắng viết về đề tài này, đó là vì những người đang chống chọi với sự yếu đuối này, họ không được hướng dẫn đầy đủ về tinh thần và đạo đức. Trong vài trường hợp, người ta đã chỉ dẫn họ sai lầm khi nói rằng thủ dâm sẽ nâng cao biểu hiện hành vi vợ chồng hoặc đó là một phần trong quá trình hồi phục từ những vướng mắc về tình dục. Một điều phổ biến hiện nay là thói thủ dâm đã xâm nhập vào mọi giai đoạn đời sống từ trẻ con cho tới người lớn tuổi. Nó xuất hiện nơi trẻ em, thanh thiếu niên, người trưởng thành, người đã kết hôn, người già, các chức sắc tôn giáo, các chủng sinh và cả linh mục.

Xin lưu ý điều tôi muốn nói ở đây là một xu hướng (chính xác hơn là một khuynh hướng rối loạn). Bằng những cách khác nhau, nhiều người đã kiểm soát được khuynh hướng này nhờ một chương trình trợ giúp tinh thần. Tuy nhiên, một số khác đang phải chiến đấu trong bóng tối, và vì họ mà tôi viết bài này. Tôi sẽ bắt đầu với định nghĩa của thủ dâm, sau đó sẽ trình bày vài suy xét về tâm lý. Tiếp theo tôi sẽ điểm lại lời dạy của huấn quyền về vấn đề này. Tôi sẽ kết thúc bằng những đề nghị mục vụ, bao gồm những yếu tố tạo nên một chương trình mục vụ nhằm giúp nhiều người vượt qua gánh nặng triền miên này.

2. Những suy xét về mặt tâm lý liên quan đến thói thủ dâm
Thủ dâm đôi khi còn gọi là tự lạm dụng hoặc theo các sách giáo khoa ngoài đời, người ta gọi là “tự thỏa mãn”. Khi những kích thích tâm lý diễn ra trong giấc ngủ, nó được biết đến với tên gọi mộng tinh. Lm. Benedict Groeschel dùng từ thủ dâm để nói đến những hành vi diễn ra trong giấc ngủ hoặc lúc nửa tỉnh nửa mê, hoặc những hành vi của trẻ em và hành vi giới tính ở các em vị thành niên, trong khi đó ông dành từ “tự – khêu gợi” để nói đến hành động của thanh niên và người trưởng thành. Với họ, “vì những lý do khác nhau mà họ bị lôi kéo và tìm kiếm một sự thay thế cho thế giới thực thông qua hành động mang tính tượng trưng và đáng thất vọng như thế này”. Trong một bài viết về thói thủ dâm, Jos. Farraher, mô tả hành động đó như “sự kích thích các cơ quan sinh dục ngoài dẫn đến khoái cảm bởi chính người đó, bằng những chuyển động của tay hay những tiếp xúc cơ thể hoặc bằng những hình ảnh kích dục hay sự tưởng tượng (thủ dâm trong tư tưởng) hay có khi kết hợp cả kích thích thân xác lẫn tư tưởng.” (2) Theo nghĩa rộng hơn nó bao gồm cả việc thủ dâm lẫn nhau khi đương sự đụng chạm vào cơ quan sinh dục của nhau.

Nhưng có lẽ sự diễn tả thấu đáo nhất là của C.S.Lewis, được trích lại bởi Leanne Payne trong cuốn “Hình ảnh tan vỡ”: “Điều xấu xa thực sự của thói thủ dâm là nó dùng ham muốn dẫn dắt một cá nhân ra khỏi bản thân anh ta để hoàn thiện (hoặc sửa chữa) tính cách của anh ấy như thể là của người khác rồi trả nó về trong sự tù túng của bản thân, nơi đó lưu giữ hình ảnh người tình bí mật trong trí tưởng tượng. Một khi đã chấp nhận hành vi này, anh ta luôn bị giằng co với việc thoát ra khỏi ý tưởng đó cũng như ý muốn kết hợp với một phụ nữ hoặc một người đàn ông thật ngoài đời. Bởi người tình tưởng tượng của anh ta luôn ở trạng thái sẵn sàng tiếp cận, luôn phục tùng, không đòi hỏi hay phán xét anh ta nhưng mang lại những điều hấp dẫn về tâm lý cũng như hấp dẫn tình dục mà không con người thực tế nào có thể sánh bằng.” Câu trích này có thể áp dụng cho cả nam lẫn nữ, nó diễn tả việc thủ dâm như một chuyến đi từ thế giới thực vào sự tù túng, giam hãm của ham muốn.

3. Những yếu tố góp phần vào thói thủ dâm
Thủ dâm là một hiện tượng phức tạp. Thánh Bộ Giáo dục của Giáo Hội Công giáo năm 1974 đã chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân của thói thủ dâm là sự mất cân bằng giới tính, và vì thế “cần nỗ lực hướng tới nguyên nhân của vấn đề hơn là tấn công vấn đề này một cách trực tiếp.” (4) Thực ra có nhiều yếu tố hàm ý trong cách dùng từ “mất cân bằng về giới tính” mà chúng ta sẽ xem xét sau đây.

Đây là cách tiếp cận khôn ngoan. Chúng ta sẽ không hiểu được tại sao người ta lại bị thói quen này đè nặng trừ khi ta hiểu hoàn cảnh sống của anh ấy. Bằng cách lắng nghe những con người này, ta có thể nhận ra rằng nỗi cô đơn là tác nhân chủ yếu, đưa con người ấy vào sự cô lập, tưởng tượng và thủ dâm. Nỗi cô đơn luôn hòa cùng cảm giác tức giận và căm ghét bản thân cao độ. Khi cuộc sống thực tế khắc nghiệt và chán chường, người ấy hướng sang một thế giới tưởng tượng, và khi dành thời gian quá nhiều cho trí tưởng tượng, anh ta trở thành nô lệ cho đồ vật, công cụ tình dục (vì đó là cách anh ta xem người khác như một đồ vật để thỏa mãn).

Thế là người ấy chạy trốn vào thế giới không thật nhưng vô cùng dễ chịu của trí tưởng tượng. Đó là khởi đầu của quá trình nghiện tình dục, Patrick Carnes đã mô tả rất rõ như vậy.(5)

Thường thì thói thủ dâm sẽ trở thành sự thúc ép, không thể cưỡng lại và có thể nói, người ấy không có khả năng kiểm soát hành động thủ dâm mặc dù đã cố gắng rất nhiều. Thông thường, những người như vậy thiếu sáng suốt và họ cần một liệu pháp tâm lý kết hợp với hướng dẫn tinh thần.

Tuy vậy, đôi khi thói thủ dâm chỉ nhất thời và tùy từng trường hợp. Ví dụ, có người ngay khi thay đổi môi trường sống thì khuynh hướng thủ dâm biến mất. Có trường hợp một nữ tu 25 tuổi sống trong môi trường bao quanh toàn những người tu hành già cả mà cô ta không thể giao tiếp thực sự, khi đổi môi trường và làm việc cùng các nữ tu cùng độ tuổi, cô ta nhanh chóng nhận ra trước đây mình đã bị cô lập và cô đơn thế nào, còn ở môi trường mới này, cô ta đã có những mối liên hệ thực sự. Có nhiều ví dụ cho thấy hành động thủ dâm là triệu chứng của những thúc đẩy tiềm ẩn trong cuộc sống con người.

Những triệu chứng này khác nhau tùy độ tuổi, hoành cảnh bên ngoài và tính khí, khuynh hướng bên trong con người, chúng sẽ được mô tả và đánh giá trong phần Hướng dẫn Mục vụ của bài viết này. Ở điểm này cũng đủ để nói rằng bước đầu tiên mà các linh mục hay người tham vấn cần thực hiện đó là lắng nghe thật kỹ câu chuyện của đương sự. Hiển nhiên, cần thực hiện việc này khi không có nhiều người xếp hàng như khi xưng tội, tốt nhất nên tổ chức tham vấn trong phòng họp. Còn đối với người tham vấn, đó là khi đương sự chuyển hướng, bắt đầu nói ra vấn đề và khi họ cần sự hướng dẫn tinh thần. Như đã nói, tôi sẽ quay lại những yếu tố tâm lý khi bàn thảo những trường hợp của cá nhân sau khi xem xét khía cạnh đạo đức của hành vi và thói thủ dâm.

4. Vấn đề đạo đức của hành vi thủ dâm
Trong quyển Tuyên bố về những nghi vấn liên quan đến đạo đức tính dục có nói rằng theo giáo huấn truyền thống thì hành vi thủ dâm cấu thành một sự rối loạn nghiêm trọng “mà người đời ngày nay kêu gọi phải xem xét lại hoặc phủ nhận hoàn toàn sự rối loạn đó.” (6) Ví dụ, trong một quyển sách giáo khoa phổ biến ở bậc đại học, người ta đã nêu ra rằng những chứng cứ dựa theo kinh nghiệm đã thay đổi nhiều quan điểm liên quan đến vấn đề thủ dâm, nhiều nhà đạo đức bị lâm vào thế khó xử khi giữ quan điểm “hầu hết nam giới đều mắc tội trọng” đó (7). Tác giả của sách ấy hẳn đã phớt lờ sự khác biệt giữa tính nghiêm trọng khách quan và tội lỗi chủ quan. Trong phần điểm lại những ý kiến liên quan đến khía cạnh đạo đức của thói thủ dâm, tác giả của quyển Tính dục con người đã nói tới một sự đồng thuận đang ngày một gia tăng đó là người ta xem sự sai trái đạo đức của thủ dâm như một “sự đảo lộn đáng kể trong một trật tự quan trọng.”

Nói cho đúng, họ đã thêm vào rằng theo truyền thống Kitô giáo thì mọi hành vi thủ dâm đều được xem như nghiêm trọng và về bản chất là xấu xa, và nếu thực hiện hành vi đó với tất cả ý thức và sự ưng thuận, thì nó được xem là tội trọng. Hai cuộc nghiên cứu gần đây sẽ giúp cho người đọc thấy bối cảnh liên quan đến tính luân lý của vấn đề thủ dâm. Nghiên cứu thứ nhất của Giovanni Capelli có tính lịch sử, trong gian đoạn thiên niên kỉ thứ nhất.

Trong số những kết luận của ông có vài điểm như sau: 1.Không có câu nào trong Cựu ước hoặc Tân ước chống lại vấn đề thủ dâm một cách rõ ràng. 2.Cappelli không tìm thấy điểm nào trong các văn bản của các Giáo phụ tông đồ đề cập đến thủ dâm. 3.Những gì nói về thói thủ dâm được tìm thấy lần đầu tiên trong “lời sám hối” của dân Anglo-Saxon và Celtic thuộc thế kỉ 6, khi vấn đề này được xem xét theo cách tích cực và theo luật pháp. 4. Tuy nhiên, sẽ sai lầm nếu cho rằng sự yên lặng của các Giáo phụ về vấn đề thủ dâm là một hình thức chấp thuận nó, hoặc là một sự thờ ơ. Những nguyên tắc làm các Ngài cân nhắc tỉ mỉ những gì liên quan đến đạo đức tính dục và quan điểm chung của của các Ngài có thể dễ dàng dẫn tới sự kết án hành vi thủ dâm. Chúng ta không biết tại sao việc này không được thực hiện; có lẽ do những những tác giả tiên khởi chỉ quan tâm chủ yếu đến những tội lỗi tính dục giữa con người với nhau trong bản chất.(9)

Nghiên cứu thứ hai quan tâm đến những quy tắc tuyệt đối và tương đối của đạo đức tính dục theo Thánh Phaolô. Phân tích hiểu biết của Silverio Zedda về con người hữu thể theo thánh Phaolô. William E. May cho rằng Zedda không tìm thấy một điểm nào nhấn mạnh thói xấu của việc tự gợi dục. “Nhưng có thể lên án cùng tội danh như vậy khi ta suy từ lời dạy của Thánh Phaolô, đó là những câu đầu của văn bản khi Ngài lên án những đam mê xấu xa nói chung, ở đoạn đó những nhà thần học luân lý cũng thấy thói xấu ấy bị lên án…Theo cách tương tự, người ta có thể xem thủ dâm như một nhân tố trong hoàn cảnh của những người không kết hôn tìm hiểu bản thân họ. Đối với họ, Thánh Phaolô khuyên họ hãy kết hôn: “Nếu không tiết dục được, họ cứ kết hôn, vì thà kết hôn còn hơn là bị thiêu đốt.” (1 Cor. 7:9) (10) Zedda hiểu các đoạn Gal. 5:23, 2 Cor. 7:1; and I Thes. 4:4 đều mang thông điệp hoàn toàn lên án thói thủ dâm.

Nhưng các tác giả của cuốn Tính dục con người nói rằng sự lan tràn của thói thủ dâm nhất là ở nam giới đã làm các nhà luân lý cảm thấy khó khăn trong việc duy trì quan điểm truyền thống. Dường như quá mẫu thuẫn với lẽ thường tình. Những nhà luân lý đã giảm bớt tính nghiêm trọng khách quan của hành vi này, họ đã trốn tránh vấn đề khi cho rằng ở mức độ mục vụ trong nhiều trường hợp, do thiếu nhận thức và do phần nào bị thúc ép, họ đã xem những hành vi này không phải là tội trọng. Tuy nhiên Lm. Farraher đã tranh luận một cách thuyết phục dựa trên giáo huấn kiên định của Hội Thánh vốn cho rằng thủ dâm là sự vi phạm quy tắc đạo đức nếu cá nhân nhận thức đầy đủ sự xấu xa của hành vi và thực hiện hành vi đó. Do không hoàn thành mục đích kết hiệp và sinh sản như hành vi vợ chồng vốn đã được chúc phúc trong bí tích hôn nhân, nên thủ dâm trở thành một hành vi có tội và rối loạn nghiêm trọng.(11)

Cha Farraher cũng chỉ ra rằng ở những người đã kết hôn, việc kích thích tình dục được xem là hợp luân lý nếu như nó dẫn đến hành vi giao hợp tự nhiên hoặc nó hoàn thiện hành vi vợ chồng.(12) Farraher rất chính xác khi viết về những gì cấu thành nên tội trọng của hành vi thủ dâm: “một cá nhân được gọi là chính thức mắc tội trọng vì thủ dâm khi hành động của người ấy dựa trên một chọn lựa hoàn toàn có chủ ý với những gì anh ta nhận thức, thì khi đó anh ta mắc tội trọng.(13) Nếu hành động đó được thực hiện khi người ấy chỉ nhận thức một phần, hoặc không hoàn toàn ưng thuận trong ý định, thì đó là tội nhẹ; và “nếu như người ấy không được tự do lựa chọn, anh ta sẽ không mắc tội gì cả thậm chí khi anh ta nhận thức những gì đang làm.” (14) Farraher tiếp tục chỉ ra rằng người đó sẽ không mắc tội ngay cả khi anh ta thấy trước kết quả của một số hành vi sẽ dẫn đến kích thích và khoái cảm mà người đó tự nguyện thực hiện,miễn là anh ta không nhắm đến những kích thích như thế, nhưng chỉ đơn thuần cho phép nó xảy ra và có một lý do hợp lý nào đó. (Đây chỉ là một ứng dụng của nguyên tắc hệ quả gấp đôi). (15) Farraher đã chỉnh đốn một sự hiểu lầm mà người Công giáo hay mắc phải, đó là khi họ cảm thấy có một kích thích tình dục nào đó, dù không mong muốn, họ đều nghĩ rằng họ đã phạm tội trọng. (16) Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, thật khó tin nếu có người cảm thấy tội lỗi như thế, nếu có đi chăng nữa, người ta sẽ ngạc nhiên khi biết rằng thủ dâm là hành động tội lỗi. Thế nên cần phải hướng dẫn những tín hữu hiểu rõ sự phân biệt của Farraher, một mặt để tránh sự băn khoăn trong lương tâm, một mặt tránh sự xuề xòa vô ý thức.

Như trong ví dụ về ngừa thai, cũng như khi chất vấn về thói thủ dâm, người ta đã quay lưng lại với giáo huấn của Giáo Hội khi Lm. Charles Curran biện luận rằng mọi hành vi thủ dâm, về bản chất, không cần phải xem như một tội “nghĩa là không nhất thiết và không phải lúc nào cũng nghiêm trọng.” (17) Bình luận về quan điểm của Curran, các tác giả của cuốn Tính dục con người xem nó là bước đột phá quan trọng về thần học. Ở đây, không nói đến chuyện thủ dâm không có tội hay là tội trọng, nhưng có ý nói “không phải mọi hành vi thủ dâm có chủ đích nào cũng cấu thành tội trọng.” Tuy nhiên, quan điểm của Curran cũng như tác giả Tính dục con người đã trực tiếp đối nghịch với giáo huấn trong Tuyên bố của Tòa Thánh Vatican về Luân lý Tính dục như tôi đã nhắc đến. Vì thế Thánh bộ Giáo lý Đức tin đã tái xác nhận Giáo huấn kiên định của Hội Thánh về sự suy đồi nghiêm trọng một cách khách quan của thói thủ dâm, quy kết thủ  dâm là “một hành vi rối loạn nghiêm trọng và rối loạn từ bản chất.”(19)

Những cuộc tranh luận ủng hộ cho quan điểm của Giáo Hội, và phản ứng của các nhà luân lý Công giáo đối với những quan điểm chống lại giáo huấn đều được tóm tắt trong cuốn Đạo đức Tính dục Công giáo. Tôi muốn chọn ra vài điểm trong những tranh luận của họ.

1/ Khi nhìn nhận một số đoạn trích dẫn như Gen. 38:8-10; 1 Cor 6:9; Rom. 1:24 lên án thói thủ dâm, tuy có thể có những diễn giải khác nhau, nhưng Kinh Thánh có cả những đoạn lên án việc sử dụng khả năng tính dục một cách vô trách nhiệm. Tuyên bố của Vatican cho rằng nếu như Kinh Thánh không lên án tội này một cách đích danh, thì “truyền thống của Giáo Hội đã hiểu đúng là hành vi này bị lên án khi Tân Ước nói đến sự “ô uế”, “không trong sạch” và những suy đồi khác nghịch với đức trong sạch và sự tiết dục.”(21)

2/ Các tác giả của cuốn Đạo đức Tính dục Công Giáo đã trả lời thỏa đáng những chống đối cho rằng việc lên án hành động thủ dâm là một hình thức của Mani giáo và thuyết khắc kỷ. Ngược lại, những ai chấp thuận với thủ dâm thì không thể coi thân xác và hoạt động tính dục của họ là những yếu tố cần thiết của bản thân vì thủ dâm không thực hiện điều thiện hảo cốt lõi đó là sự dâng hiến bản thân cho nhau và làm sinh sôi nảy nở sự sống. Thủ dâm dùng cơ thể như một công cụ để thỏa mãn và đúng là hình thức của thuyết nhị nguyên. Trong ngữ cảnh này, nghĩa là thân xác trở thành đồ vật để thỏa mãn tâm hồn.(22)

Một lần nữa, giáo huấn này của Hội Thánh không dựa trên lập luận của thuyết khắc kỉ mà dựa trên mục đích cốt lõi của việc quan hệ tình dục đó là sinh sản. Mục 47- 52 trong Giáo huấn của Hội Thánh thời hiện đại, cũng như tông thư Humanae Vitae (23) đã nêu rõ việc quan hệ tình dục trong hôn nhân còn mang những mục đích khác, bao gồm sự diễn tả tình yêu lẫn nhau giữa hai người. Trái ngược với nó, thủ dâm không phục vụ bất cứ lợi ích nào của hôn nhân mà chỉ là một hành vi đơn độc của một người.

Nội dung của Đạo đức Tính dục Công Giáo cũng đáp lại sự chống đối cho rằng thủ dâm không phải là một rối loạn đạo đức nghiêm trọng trong một vài trường hợp. Thủ dâm ở lứa tuổi vị thành niên được xem là một trong những trường hợp đó. Câu trả lời là Giáo Hội luôn thừa nhận một điều là tình huống làm thay đổi vấn đề và có nhiều mức độ trách nhiệm khác nhau với những hình thức thủ dâm khác nhau. Nhưng Giáo Hội luôn giữ quan điểm cho rằng thủ dâm xét về mặt khách quan là hành vi sai trái nghiêm trọng. Một cách chính đáng, Giáo Hội phân biệt tính nghiêm trọng khách quan của hành vi thủ dâm và trách nhiệm cá nhân của tác nhân gây ra hành động đó. Sự phân biệt quan trọng này, như Cha Farraher đã nói rất chi tiết, giúp chúng ta giữ vững quan điểm truyền thống, trong khi tạo ra sự chấp thuận cho những yếu tố để giảm nhẹ tội cho hành vi thủ dâm của cá nhân, miễn là người đó sẵn lòng làm hết cách để có thể vượt qua thói quen xấu và sự thôi thúc của hành vi này.

Theo kinh nghiệm mục vụ của tôi qua 47 năm, tôi chưa gặp người nào có lòng ăn năn thống hối mà lại không muốn thoát khỏi thói thủ dâm hoặc muốn tiếp tục hành vi này một cách có chủ đích. Hầu như những ai muốn tiếp tục thói quen này một cách có chủ ý là những người không đi xưng tội hoặc không xưng ra tội này bởi họ đã bị người ta nhồi nhét, khiến họ tin rằng thủ dâm không có tội hoặc nhiều lắm chỉ là một tội nhẹ, không cần phải xưng ra.

Các tác giả của Đạo đức Tính dục Công Giáo cũng đáp lại lý lẽ của Lm. Charles Curran khi ông cho rằng một hành vi thủ dâm đơn lẻ không thể là một hành vi sai trái nghiêm trọng nhưng chỉ khi nào được thực hiện trong thời gian dài thì mới có thể là tội trọng. Sự ngụy biện ở đây là người ta đã không nhìn thấy điểm cốt yếu của trách nhiệm cá nhân, đó là sự tự do chọn lựa trong hành động, không phải là cách thức hành động, vốn dẫn đến hàng loạt những hành động được chọn lựa tùy ý. Nhân cách đạo đức, hay cá tính của chúng ta được hình thành qua những hành động này, và nếu sự chuyển biến tính cách có xảy ra thì nó khởi sự từ một hành động được tự do chọn lựa. Thánh Augustine cũng đã dạy như thế trong cuốn Tự thú.(24)

Trong thực tế, các tác giả cho rằng thủ dâm không phải là vấn đề nghiêm trọng vì họ quá sợ những nghiên cứu thống kê cho thấy đại đa số các thanh thiếu niên nam và rất đông các em nữ mắc thói thủ dâm. Những nghiên cứu này không mô tả mức độ thường xuyên hay tình trạng lương tâm của những người thủ dâm. Họ không đếm xỉa gì tới những hiện tượng rất đương thời, đó là có những nhóm nâng đỡ tinh thần giúp các em vượt qua chứng nghiện tình dục, ví dụ như nhóm Những Người Nghiện Ẩn Danh (S.A), (25) và (S.A.A). (26) Hai nhóm này đều xem thủ dâm là một hình thức nghiện tình dục và có thể vượt qua bằng cách thực hành chương trình 12 Bước, áp dụng cho các vấn đề liên quan đến tình dục.

Từ quan điểm mục vụ, ta có thể chống lại luận điểm của Lm. Curran. Trong thực tế, ta không đối phó với những người có hành vi thủ dâm đơn lẻ. Dù họ ở lứa tuổi nào, thì yếu tố được quan tâm là thói quen, sự lặp lại của hành vi hay sự thúc ép dẫn tới hành vi đó. Luận điểm của Curran cũng không xét đến một chuyện, đó là hành vi ô uế có chủ ý thường có khuynh hướng lặp đi lặp lại, dẫn tới việc hình thành một thói quen xấu mà cuối cùng sẽ trở thành một sự thôi thúc tình dục, hay nói rõ hơn là một hình mẫu, cách thức hoạt động tình dục mà người đó không thể kiểm soát được dù anh ta cố gắng thế nào đi nữa. Vấn đề đạo đức ở đây là liệu ta có chịu trách nhiệm khi biết mình đang bắt đầu bước vào thói quen xấu này hay không. Có phải anh ta không thật sự nghiêm túc tránh bắt đầu một thói quen như thế hay không? Nếu cho rằng một hành động thủ dâm riêng lẻ có chủ đích không vi phạm nặng nề nguyên tắc luân lý, vậy điều gì sẽ ngăn cản người ta rơi vào thói quen này? Hầu như người ta sẽ không cố gắng tránh hành động ấy, và sẽ dễ dàng buông xuôi theo nó, và như thế sẽ dẫn tới sự thôi thúc không cưỡng lại được. Đây là những vấn đề mục vụ mà Curran chưa đối mặt.

5. Những suy xét liên quan đến trách nhiệm cá nhân trong vấn đề thủ dâm
Ở vị trí mục tử, ta phải phân biệt được người có vấn đề thủ dâm theo thói quen và người thủ dâm do sự thôi thúc, không cưỡng lại được. Bằng định nghĩa, người có thói quen thủ dâm vẫn còn kiểm soát được hành vi của anh ta, cố gắng kềm chế một thời gian dài, rồi lại tái phát trong thời gian ngắn. Có thể người đó dùng cách thủ dâm để thay cho quan hệ tình dục, có thể do sợ nhiễm AIDS. Tuy nhiên, anh ấy có thể dừng thói quen này bất cứ khi nào anh được thúc đẩy để dừng lại, thường là do những tác động tinh thần, tôn giáo. Những lý do trên cũng được áp dụng cho phụ nữ, những người đã lỡ mắc phải thói quen thủ dâm. Cô đơn và suy sụp tinh thần là những tác nhân mạnh ảnh hưởng cả nam lẫn nữ giới. Tuy thế, ở vài trường hợp, người ta đã vượt qua lằn ranh từ thói quen sang sự thôi thúc, không cưỡng lại được. Khi đó họ nhận ra rằng họ thủ dâm thường xuyên dù họ có áp dụng  biện pháp thông thường để tránh. Và thế là họ phải đối mặt với tình trạng nghiện tình dục.

6. Thủ dâm, một hình thức nghiện tình dục
Những vị linh hướng và các linh mục giải tội đã quen giúp đỡ những người mắc thói thủ dâm thường xuyên mặc dù họ ước muốn thoát khỏi thôi thúc đó. Những người như thế thường sống trong mặc cảm và tội lỗi. Họ không thỏa mãn với những gì mà họ được linh mục giải tội khuyên nhủ, đại loại như ‘như vậy không mắc tội trọng đâu do thiếu khả năng kiểm soát hành vi thủ dâm’,…Họ muốn biết làm thế nào để lấy lại khả năng kiểm soát những thôi thúc tình dục. Việc đầu tiên mà người cố vấn cần làm là tìm hiểu tình trạng nghiện tình dục của người đó và xem coi có cách gì để giúp người mắc chứng thủ dâm do thôi thúc (của sự nghiện ngập) không.

Chứng nghiện tình dục có thể được định nghĩa như một mối quan hệ giả lập với một ký ức, thay thế trải nghiệm tình dục bằng những tác động có tính phá hủy lên cái tôi của người đó, trong vài trường hợp là với những người khác (27). Như Patrick Carnes giải thích: “người nghiện dùng một một mối quan hệ bệnh hoạn với một sự việc hay quy trình nào đó để thay thế cho một mối quan hệ lành mạnh với những sự việc hoặc những người khác. Mối quan hệ của người nghiện với ‘trải nghiệm’ thay thế như vậy trở thành tâm điểm của cuộc sống của anh ta.” (28)

Tiến sĩ Carnes nhấn mạnh một sự thật là người ta thường có xu hướng lẫn lộn giữa chứng nghiện tình dục với hoạt động tình dục thường ngày và sự thỏa mãn. Sự khác biệt là những người bình thường có thể biết tiết chế hành vi tình dục của họ, trong khi người nghiện thì không. Người nghiện mất khả năng nói “không” với chuyện này vì hành vi của anh ta là một phần của chu kì suy nghĩ, cảm nhận và hành động mà anh ta không thể kiểm soát. Thay vì tận hưởng tính dục như nguồn vui của sự tự khẳng định bản thân trong hôn nhân thì người nghiện dùng nó như một sự giải khuây khỏi nỗi đau, căng thẳng cũng giống như cách người nghiện rượu bị lệ thuộc vào rượu. Trái ngược với tình yêu, sự bệnh hoạn ám ảnh tâm trí khiến tình dục trở thành nhu cầu chủ đạo, vì thế người nghiện sẽ hi sinh mọi thứ kể cả gia đình, bạn bè, sức khỏe, công việc và sự an toàn để thỏa mãn thôi thúc đó.(29)

Không cần khai  triển tất cả các giai đoạn của chứng nghiện như Carnes và Anne Wilson đã làm trong sách của họ, cũng đủ để nói rằng vẫn còn hy vọng cho người nghiện thủ dâm vì nhiều lý do như sau. Trước hết, anh ta cần hiểu rằng anh ta không phải là kẻ xấu, nhưng là một người đang chịu đựng một căn bệnh có thể chữa trị và vượt qua. Chừng nào anh ta còn căm ghét bản thân và xem mình là kẻ chẳng ra gì (xấu hổ), thì anh ấy vẫn còn tin rằng sẽ chẳng có hy vọng gì cả (thất vọng). Kế đến, với sự giúp đỡ của các vị linh hướng và chuyên gia trị liệu, anh ấy có thể nhận ra rằng mình có thể vượt qua chứng nghiện. Anh ta cũng cần thực hành 12 Bước bằng cách tham dự những buổi họp mặt nhóm trợ giúp. Anh ấy sẽ tìm thấy sự giúp đỡ vô giá khi gặp gỡ những nhóm như S.A và S.L.A.A.

Để khẳng định niềm hy vọng cho những người nghiện thủ dâm, tôi không chỉ dựa vào kiến thức sách vở đơn thuần nhưng qua kinh nghiệm khi gửi những anh chị này đến nhóm S.A và S.L.A.A. cũng như khi làm việc với các thành viên ‘Lòng Dũng Cảm’ tại New York. (‘Lòng Dũng Cảm’ là một hệ thống hỗ trợ tinh thần cho những người đồng tính Công giáo, những người ước muốn sống nhân đức khiết tịnh). Những tiến bộ trong việc thực hành nhân đức khiết tịnh không diễn ra nhanh chóng. Đó là một tiến trình từ từ, đôi khi tái phát thật đau đớn. Nó đòi hỏi cá nhân ấy phải tham vấm thường xuyên với vị linh hướng, thú nhận hết lòng sự bất lực của bản thân, trung thành tham dự các buổi họp nhóm, tuyệt đối chân thành khi nói về bản thân, cầu nguyện hoặc chiêm niệm hàng ngày với cả tấm lòng. Điều này đã cho tôi thấy một nét đặc biệt quan trọng mà vị linh hướng cần thực hiện khi tham vấn những người nghiện thủ dâm, bởi nó sẽ giúp anh ta bắt đầu yêu bản thân anh ta một cách đúng đắn.

7. Sự khác biệt giữa hành vi trong quá khứ và hiện tại
Người nghiện phải nhận thức được khác biệt giữa trách nhiệm của hành động trong quá khứ, trách nhiệm của hành động ở hiện tại và tương lai. Tuy vậy, trên thực tế thì không thể đánh giá đạo đức hành vi trong quá khứ của người nghiện. Chúng ta không có cách nào để sắp xếp theo loại và mức độ của hành vi tình dục do thôi thúc, hoặc vì có những loại khác hơn. Mỗi cá nhân mắc thói thủ dâm đều có một hoàn cảnh sống khác nhau với hình mẫu khác nhau của nét tính cách. Như Rudolph Allers đã viết từ nhiều năm trước và như những tác giả khác nói, “Chúng ta không thể biết được bản chất của những thôi thúc không thể cưỡng lại trừ khi chúng ta biết hết những gì có thể tìm hiểu được từ cá nhân một cách toàn diện.” (30)

Như những hình thức nghiện ngập khác, hành vi thủ dâm không thể cưỡng lại bắt đầu từ óc tưởng tượng. Hình ảnh tưởng tượng sẽ lấp đầy tâm trí người ấy bằng cách không cho những ý nghĩ hay động lực kháng cự có cơ hội làm sao lãng người ấy khỏi những hình ảnh sảng khoái vốn dẫn đến hành vi thủ dâm. Ý thức bị thu hẹp bởi một ý tưởng, một hình tượng. Đó là sự thúc ép với ý nghĩa đầy đủ.

Có một hình thức thôi thúc khác khiến người ấy đắm chìm trong mục tiêu mà anh ta ham muốn, đó là cảm giác phải nhượng bộ sự thôi thúc để được giải tỏa thân xác nếu không anh ta sẽ phải chịu đựng nỗi đau rất lớn. Ở trường hợp này, anh ta ý thức rằng mình có thể kháng cự lại, và có thể lựa chọn theo cách khác. Có một chút tự do để chọn lựa nhưng hầu như không đủ để cấu thành tội trọng. Điều này đúng hơn khi người ta chống lại thôi thúc này khi cố đi vào giấc ngủ đêm hoặc bất ngờ bị cám dỗ vào lúc nửa đêm hay trước khi thức giấc. Farraher bình luận rất nhiều về những tình huống này. Lúc đó người ta chống lại cám dỗ thủ dâm trong khoảng thời gian thức giấc thì lại bị tràn ngập bởi những hình ảnh tưởng tượng lúc họ cố đi vào giấc ngủ hay ngay khi tỉnh giấc vào buổi sáng. Chừng nào họ thật sự cố gắng hướng suy nghĩ của mình đi chỗ khác thì đó vẫn không gọi là phạm tội thậm chí nếu khoái cảm có xảy đến. Nếu họ băn khoăn, không biết mình đã cố gắng thoát ra khỏi sự tưởng tượng chưa, thì họ có thể nhẹ lòng vì sự “không biết” của họ. Theo những quy tắc truyền thống của luân lý, người ta có thể cho rằng ý định của người ấy trong thời gian tỉnh giấc cũng xuất hiện trong thời điểm xảy ra những cám dỗ về đêm. Các linh mục giải tội và các vị linh hướng nên trấn an những người đang mang cảm giác tội lỗi. Họ cho rằng vì họ thức giấc ngay thời điểm khoái cảm nên họ mắc tội, nhưng không phải là tội vì nó được coi là một hành vi không tự nguyện. “Nếu nói với họ rằng họ có thể tránh những chuyện không mong muốn như thế nếu họ thật sự cố gắng và dùng những phương thế siêu nhiên, điều đó có thể làm họ thực sự băn khoăn, thậm chí thất vọng vì thực sự họ không có khả năng tránh khỏi những chuyện không mong muốn.” (31)

Là một linh mục giải tội, đôi khi phải xử trí với trường hợp khi người ta rất nhiệt thành với Chúa, với gia đình và Giáo hội nhưng đồng thời lại tự đưa mình vào những tình thế cám dỗ, gây khó khăn rất nhiều trong việc giữ đức thanh sạch. Tương tự, cũng có khi phải khi tiếp cận với những linh mục, các tu sĩ nam nữ bị ám ảnh với những ý tưởng tình dục, cảm thấy bị thôi thúc muốn buông xuôi theo chúng. Với những trường hợp này, xin đề nghị 2 bước sau: 1/ Hãy tìm đến một chuyên gia tâm lý trị liệu, người có cùng quan điểm với giáo huấn của Giáo Hội; 2/ Hãy thường xuyên đến với những nhóm hỗ trợ tinh thần, nơi bạn có thể thảo luận những mâu thuẫn nội tâm đã làm bạn đau khổ cũng như những xu hướng thôi thúc bạn. Thêm một tình huống khác nữa đó là khi người mắc thói thủ dâm nhận ra chính bản thân họ. Có thể gọi đây là khoảnh khắc của sự thật. Cũng có thể áp dụng điều này cho những người mắc thói thủ dâm do thói quen.

Theo tác giả Allers, cái gọi là sự thúc ép không thể cưỡng lại trở nên không thể cưỡng lại được ngay cả trước khi nó chưa được triển khai hoàn toàn. Người ấy có cảm giác băn khoăn, cảm thấy có gì sắp xảy đến. Anh ta đã để tâm vào một hình ảnh tưởng tượng nào đó, thường là phim hoặc sách báo khiêu dâm. Anh ấy nhận thấy mình phải thoát khỏi những gì đang tưởng tượng hay hình ảnh khiêu dâm đó, nhưng anh ta lại không làm vậy. Có thể ở cấp độ vô thức, có một xu hướng tìm cách thỏa mãn bằng cách thủ dâm nhưng ở cấp độ ý thức, anh ta sẽ không cho phép mình làm thế. Quay lại vấn đề này, Allers nói rằng theo cách nào đó, người này phải chịu trách nhiệm vì không tận dụng khoảnh khắc thực tại mà lại cho phép bản thân trở thành nô lệ của ham muốn. “Vì thế hành động này vô trách nhiệm, và dù sao cũng không thể tha thứ vì thật ra người ấy đã bằng lòng để nó tiếp diễn.”(32)

Thật sự, nếu người mắc thói thủ dâm này thực hành chương trình 12 Bước, anh ta sẽ nhận ra mình đã không thành thực với bản thân và đã không thực sự chống lại những ham muốn khi có dịp. Một phần của quá trình chữa lành là trở nên thành thực hơn với chính mình, liên quan đến động lực của người ấy. Bài thơ sau đây nói lên tất cả:

8. Tự truyện năm chương – Portia Nelson

Tạm dịch:

  1. Tôi rảo bước xuống phố,
    Một hố sâu bên vệ
    Tôi rơi xuống hố
    Mất hút…bất lực.
    Không phải lỗi tại tôi
    Mãi chẳng thoát ra được.
  2. Tôi xuống cùng con phố,
    Một hố sâu bên vệ.
    Tôi vờ như không thấy
    Lại rơi xuống lần nữa.
    Chỗ cũ. Không thể tin.
    Nhưng, không phải lỗi tại tôi.
    Vẫn phải mất khá lâu
    Để thoát ra lần nữa.
  3. Tôi xuống cùng con phố
    Một hố sâu bên vệ
    Lại ngã…thành thói quen.
    Mắt tôi chợt mở to
    Biết rằng mình ở đâu
    Đúng là lỗi tại tôi.
    Tôi bước ra lập tức.
  4. Tôi xuống cùng con phố
    Một hố sâu bên vệ
    Tôi đi vòng qua nó.
  5. Tôi bước sang phố khác.

9. Tiếp cận mục vụ đối với vấn đề thủ dâm
Ở mức độ mục vụ, chẳng có ích gì khi truy xét trách nhiệm của người nghiện thủ dâm trong quá khứ, việc tốt nhất để giúp người đó là thiết lập một chương trình để được hỗ trợ tinh thần. Một câu hỏi đặt ra là liệu người nghiện có dùng những phương thế để kiểm soát hành vi của mình về sau này hay không. Đây là lúc cần xem xét kỹ càng các phương pháp tiếp cận vấn đề thủ dâm.

Những cách tiếp cận sai lầm: Cách tiếp cận sai lầm dễ thấy nhất đó là quan điểm cho rằng các thanh thiếu niên khi lớn lên sẽ không còn thủ dâm nữa. Nhiều em đã lớn lên nhưng vẫn còn vướng mắc chuyện này. Người ta còn nói với nhau một chuyện nực cười khác nữa là nếu một người hay thủ dâm, anh ta có thể sẽ bớt quan hệ với người khác giới hoặc bớt quan hệ với người cùng giới hơn. Điều này có thể đúng trong vài trường hợp, tuy nhiên với kinh nghiệm của một số người thì thủ dâm giúp họ chuẩn bị tiến tới hành vi quan hệ tình dục với người khác. Trong một vài tình huống, người ta đã giới thiệu thủ dâm như một biện pháp làm dịu căng thẳng cơ thể, như một hình thức trị liệu tình dục. Có những nhà trị liệu khác dùng thủ dâm như một hình thức giải tỏa ức chế tình dục, một phương pháp trị liệu được cho là nhằm gợi lại những kinh nghiệm gây đau thương của tình dục thời thơ ấu. (Cách tiếp cận này không còn được các nhà trị liệu có uy tín dùng đến nữa). Thủ dâm lẫn nhau đã được các cặp đồng tính dùng như hình thức tình dục an toàn. Còn có những nhà tham vấn khác cố thu hẹp vấn đề, không đưa ra bất cứ lời khuyên nào trừ câu nói: “đừng nên lo lắng chuyện này.” Thực tế, thậm chí có nhiều linh mục, chủng sinh và các giáo viên dạy về tôn giáo ở các trường Công giáo xem thói thủ dâm không phải là một vấn đề, hoặc là một vấn đề tâm lý đơn thuần. Và cứ thế tiếp tục sai lầm.

Một vài cách tiếp cận hiệu quả: Tuy nhiên, thái độ đúng đắn có lẽ là phải xử trí thói thủ dâm bằng cách mở ra những giải pháp để người đó tham gia vào một chương trình trợ giúp tâm linh. Anh ta phải gánh vác trách nhiệm vì tương lai của anh ấy. Do anh ta thoát ra khỏi rối loạn, nên anh ta sẽ có trách nhiệm với bản thân mình hơn. Sẽ dễ hiểu hơn nếu tôi giới thiệu vài tình huống điển hình từ những điều kiện sống khác nhau. Tôi sẽ bắt đầu với trường hợp các thanh thiếu niên và sẽ nói tới vấn đề thủ dâm ở trẻ em sau đó.

Đối với các thanh thiếu niên: Do các em bị các phương tiện truyền thông tấn công tới tấp với những hình ảnh kích thích, khơi gợi, do các bậc phụ huynh và các giáo viên không thể hướng dẫn các em về đạo đức, ngay cả các bậc tu hành và chức sắc tôn giáo vẫn giữ thái độ im lặng với vấn đề này nên không có gì ngạc nhiên khi các thanh thiếu niên chẳng biết gì về vấn đề tính luân lý liên quan đến vấn đề thủ dâm. Một số em đã trở thành nô lệ cho thói quen này trước khi nhận thức đầy đủ rằng đây là một hành động sai trái. Dù xã hội đã bị tẩy não, tôi dùng chữ “đầy đủ” vì nhiều bạn trẻ cảm thấy khó chịu khi nghe nói thủ dâm là một hành động sai trái. (33)

Các em đồng thời cũng cảm thấy bất lực khi cố kiểm soát một thói quen đã tồn tại, và trong nỗi xấu hổ và tội lỗi ấy, các em rụt rè khi thảo luận vấn đề này với người tham vấn, và ít hơn cả là với các linh mục, những người được coi là những nhân vật uy quyền. Hoài nghi về bản thân, bối rối vì những giá trị mà nền văn hóa và thậm chí đôi khi bởi chính gia đình đề ra, những bạn trẻ này sẵn sàng rút vào thế giới tưởng tượng của sự lãng mạn và những thú vui tình dục.

Thường hay e ngại những mối quan hệ nghiêm túc với người khác phái, các em trú ẩn trong thế giới tượng của thói thủ dâm. Thêm vào sự hỗn loạn đạo đức này và những lời dạy mơ hồ, sai lạc về thói thủ dâm trong những lớp học đạo tại các trường Công giáo khiến chúng ta hiểu được tại sao các bạn trẻ không đề cập đến vấn đề thủ dâm khi xưng tội. Đây là tất cả lý do mà các linh mục phải trả lời một cách nghiêm túc với các bạn trẻ khi câu hỏi này được nêu lên.

Chúng ta cần phải linh hướng cho các em đầy đủ, cần nhận ra ước muốn trở nên thanh sạch của các em cũng như cho những lời khuyên cụ thể về vấn đề này như cách của Lm. Benedict Groeschel trong quyển Dũng cảm để nên khiết tịnh.

Có lẽ chúng ta đã không nhận ra được gánh nặng tội lỗi nơi những bạn trẻ mắc thói thủ dâm. Các em cảm thấy có điều gì đó sai trái trong hành động dù thực tế cho thấy các em được chỉ bảo rằng “không có gì đáng lo ngại”, hoặc “không thể nào dừng lại được đâu” hoặc “lớn lên rồi sẽ hết”. Các em thật sự cần được hướng dẫn, nhưng sẽ không thấu đáo nếu chúng không được truyền đạt về tính luân lý của vấn đề này. Những yếu tố tâm lý thường cản trở việc sử dụng ý chí tự do. Theo ý tôi (và của các linh mục giải tội khác), nhiều nam thanh niên đã không tham dự Bí tích Thánh thể vào ngày Chủ Nhật vì họ cảm thấy không thể vượt qua thói quen xấu này.

Đối với những người độc thân trưởng thành: Theo như chuyện hoang đường mà người ta nói thì những bạn trẻ đã trưởng thành này lớn lên và thôi không còn thủ dâm nữa. Với việc đình hoãn hôn nhân cho đến khoảng giữa và cuối những năm hai mươi tuổi, với việc kéo dài thời gian đính hôn nhiều năm, cùng với những kích thích thường xuyên trong thời gian hò hẹn bên nhau cũng như sức cám dỗ từ các phương tiện truyền thông quảng cáo, thì chẳng có gì lạ khi họ có thói quen âu yếm nhau đắm đuối để đạt khoái cảm. Đây thực sự là hành vi thủ dâm lẫn nhau cũng giống như hành vi “khẩu dâm”. Những người tham gia vào hành vi này tự xem mình vẫn còn trong trắng vì họ chưa quan hệ tình dục qua đường sinh dục. Được gọi là trinh trắng “theo nguyên tắc”, nhưng thực ra họ cần phải tìm lại và sống đức khiết tịnh.

Có những người độc thân khác sống trong những thế giới tưởng tượng khi họ rảnh việc. Không thật sự hẹn hò với người khác vì nhiều lý do khác nhau, không có mục đích sống rõ ràng, không bị ràng buộc với vợ/chồng hay con cái, họ thường trú ẩn vào thế giới tưởng tượng như tiểu thuyết diễm tình, báo chí, phim ảnh khiêu dâm, thường lui tới quán bar vào những tối cuối tuần và đại loại như vậy. Họ rất bận rộn với nhiều người quen biết nhưng thực ra lại rất cô đơn. Khuynh hướng thủ dâm của họ thường vượt qua giới hạn bằng việc quan hệ thân xác khi có cơ hội. Tóm lại, họ đã tạo dựng một thần tượng tính dục. Nếu bạn nhắc đến tình trạng cô đơn của họ, họ sẽ phủ nhận nó và chỉ ra rằng họ có nhiều “bạn bè”. Họ hưởng thụ khoái lạc của hoạt động tình dục mà không muốn gánh trách nhiệm.

Rất khó khăn khi tiếp cận nhóm người này, họ thường đi nhà thờ vào Giáng sinh và Phục Sinh chỉ để làm vừa lòng gia đình. Có thể khi bước sang tuổi ba mươi và bắt đầu nhận ra trên đời còn nhiều thứ ý nghĩa hơn là tình dục, họ sẽ tìm kiếm những hướng dẫn về tâm linh. Ở đây, hoạt động tình dục không phải là vấn đề lớn, nhưng đó là dấu hiệu của sự thiếu hụt sâu sắc về mặt tâm linh.

Đối với những người độc thân lớn tuổi hơn: Theo kinh nghiệm của tôi, khi người tín hữu bước vào độ tuổi ngoài ba mươi, nếu họ vẫn chưa nhìn ra ơn gọi (hay thiên chức) của mình như sống cuộc sống hôn nhân, sống bậc tu trì hay độc thân phục vụ Chúa thì họ bắt đầu suy tư về ý nghĩa cuộc đời họ. Thông thường, họ bị nhấn chìm trong công việc nên dễ dàng ngăn cản những suy tư về việc dấn thân cho Chúa. Thế nhưng lúc này những ham muốn tính dục vẫn còn mạnh mẽ, thật ra còn mạnh hơn bao giờ hết và như thế họ dùng nhiều thì giờ để tưởng tượng. Việc tưởng tượng trở thành điều không thể cưỡng lại được, dẫn đến hành động thủ dâm thường xuyên, nếu không phải là hằng ngày.

Hệ quả của hành động này là cảm giác xấu hổ và tội lỗi. Nếu người ấy không tìm đến ai để linh hướng hoặc nếu tìm không được gì thì anh/chị ấy sẽ tiếp tục bị tình trạng này đè nặng đến tuổi trung niên hoặc đến tuổi già. Họ có thể thành công ở những khía cạnh khác của cuộc sống nhưng lại tuyệt vọng vì một tội lỗi bí mật. Dường như không có ai để họ tỏ bày nỗi niềm với hy vọng giải quyết vấn đề và cũng vì những vị linh hướng không cung cấp một giải pháp thỏa đáng cho người ấy để họ đương đầu với tình trạng này. Có người lại được khuyên không nên đề cập đến vấn đề thủ dâm khi xưng tội vì họ không thực sự kiểm soát được thói xấu này. Vậy những giải pháp khả thi nào mà người vị linh hướng có thể đề nghị?

10. Vài điểm linh hướng:

Tôi tin rằng những hướng dẫn sau đây đã chứng minh được tính hữu ích của chúng:

1/ Hãy giúp người ấy suy gẫm về ý nghĩa cuộc sống, về niềm hy vọng, về tài năng mà anh ta có, về sự chán chường, sự thất vọng và nỗi cô đơn của anh ta. Giúp anh ấy tìm ra điều gì đang gặm nhấm con người anh ấy bởi vì thủ dâm là dấu hiệu của một tâm hồn đang thao thức, không bình an và chúng ta cần tấn công ngay vào điểm đó.

2/ Nếu anh ta đang buông xuôi, phó mặc cho số phận, hãy cung cấp cho anh ấy một kế hoạch tâm linh như điều tôi đã viết cho những người đồng tính, “Một kế hoạch tâm linh để tái định hướng cuộc sống” (Daughters of St. Paul xuất bản).

3/ Giúp anh ấy nhận thức rằng hầu như ai cũng có khuynh hướng chui vào thế giới hấp dẫn của trí tưởng tượng trong khi thực tế lại phũ phàng và cay nghiệt. Thủ dâm phát xuất từ những hình ảnh tưởng tượng về tình dục. Chiến lược ở đây là làm thế nào để ra khỏi thế giới tưởng tượng tình dục để quay lại thực tại ngay khi anh ta ý thức rằng mình đang để tâm đến những gì tưởng tượng trong đầu. Một chiêu thức hữu hiệu đối với một số người là đọc một lời nguyện vắn tắt, sau đó thực hiện một hành động bên ngoài bằng chân tay ví dụ như dọn dẹp nhà cửa, sửa chữa cái này cái kia, đi dạo,…Bạn có bao giờ thấy mình đang tưởng tượng chuyện này chuyện kia vì tức giận, ganh gét, hay vì bị hấp dẫn tình dục, rồi bất ngờ điện thoại reo lên, bạn nhấc máy trả lời, và thế là những gì đang tưởng tượng bỗng nhiên biến mất không? Nghệ thuật là ở chỗ làm sao luôn ở trong thực tại.

4/ Bên cạnh việc chia sẻ khó khăn của mình với vị linh hướng, hãy cố gắng tìm một nhóm trợ giúp như S.A. Những người nghiện thủ dâm và thủ dâm theo thói quen đã tìm được tình bạn đích thực nhờ những buổi họp mặt của các nhóm như thế. Trong khi tạo ý thức về giá trị bản thân, việc nuôi dưỡng những mối quan hệ đích thực với những con người đích thực sẽ làm suy giảm đáng kể mãnh lực cuốn hút mà những gì người đó tưởng tượng về tình dục.

11. Vấn đề thủ dâm nơi các cặp vợ chồng
Có nhiều chứng cứ cho thấy có những người đã kết hôn có thói quen thủ dâm. Một số đã mang thói quen đã có từ trước này vào đời sống hôn nhân, một số khác thực hiện hành vi này một mình khi họ ở xa người vợ/chồng hoặc vì bị bệnh nên bị ngăn trở không quan hệ tình dục, hoặc khi nhận thấy vợ/chồng không sẵn lòng quan hệ. Đôi khi có những đôi vợ chồng thực hiện hành vi thủ dâm như một hình thức tránh thai. Khẩu dâm, quan hệ qua đường hậu môn hoặc đụng chạm, sờ mó gây kích thích bộ phận sinh dục được các cặp vợ chồng thực hiện để thay cho việc quan hệ tình dục (35). Có khi người chồng vì sợ không có khả năng quan hệ với vợ nên thực hiện hành vi thủ dâm. Cách tiếp cận vấn đề sẽ tuỳ vào những hoàn cảnh khác nhau.(36)

Nếu người chồng hoặc vợ mang thói quen này vào cuộc sống hôn nhân của họ, thì người kia cần tìm hiểu quá khứ của chồng/vợ mình để có thể giúp anh/chị ta vượt qua thói quen này. Nhưng nếu thói quen này chỉ liên quan đến mối quan hệ của hai người thì vị linh hướng nên giúp đôi vợ chồng này vượt qua khó khăn và nếu cần, có thể gửi họ cho các nhà tư vấn hôn nhân gia đình chuyên nghiệp. Đôi khi một trong hai người bị người kia bỏ bê hoàn toàn, nên có khi mắc phải thói thủ dâm này chỉ là do cô đơn. Nếu gặp khó khăn như trường hợp này, thì người chồng/vợ có thể học cách chế ngự ham muốn tình dục qua những hành động, việc làm đạo đức để hy sinh cho con cái và cho người vợ/chồng hờ hững kia. Nếu có thể, người chồng/vợ này nên cố gắng tiếp cận để tìm hiểu người vợ/chồng thờ ơ kia.

Thông thường thì những người đàn ông trung niên rất bận rộn với công việc nên họ không nhận thấy được mình đã bỏ bê vợ mình thế nào, vì cô đơn nên họ dễ bị cám dỗ thỏa mãn bằng hành vi thủ dâm hoặc ngoại tình. Đôi khi những người chồng này lo sợ rằng họ không thể thỏa mãn vợ mình bằng quan hệ tình dục và chạy trốn bằng cách vùi đầu vào công việc và những hoạt động xã hội khác. Hơn thế nữa, trong thời buổi hiện đại ngày nay, nhiều người phụ nữ đã có gia đình để tâm rất nhiều đến sự nghiệp nên họ dành rất ít thời gian cho chồng con, do đó có thể sẽ làm người chồng tìm kiếm sự thỏa mãn nơi người phụ nữ khác hoặc bằng cách thủ dâm.

12. Vấn đề thủ dâm trong giới chủng sinh
Những năm trước đây, các vị linh hướng của các chủng sinh, của những người tu hành và Giám mục rất cẩn trọng trong việc đánh giá mức độ xứng hợp tâm linh của những người được họ linh hướng. Thủ dâm được xem như một vấn đề nghiêm trọng mà một người phải vượt qua trước khi tuyên khấn hoặc trước khi nhận chức phó tế. Người ấy được yêu cầu phải bỏ được thói quen thủ dâm ít nhất là một năm trước khi trở thành phó tế hoặc khi nhận sứ vụ. Nếu tình trạng thủ dâm trở nên không kiểm soát được, người ấy phải tìm biện pháp trị liệu thực sự, bởi không nên có người nào bước vào bậc sống độc thân tu trì mà còn mang gánh nặng tội lỗi và xấu hổ vì sự yếu đuối này. (37) Các chủng sinh nên được biết rằng họ bắt buộc phải có một vị linh hướng thường xuyên hơn là chuyển từ vị linh mục này sang một vị linh mục khác. Ngày nay với việc xao lãng Bí tích Hòa giải trong hàng ngũ tu sĩ và linh mục nên chúng ta cần phải nhắc lại tầm quan trọng của vị linh mục linh hướng, người hướng dẫn cá nhân đó thường xuyên.

Điều cần thiết trên hết là những chỉ dẫn căn bản về mức độ nghiêm trọng của hành vi và trách nhiệm cá nhân để giải quyết vấn đề này.

Trong số các tác giả viết về thói thủ dâm, quan điểm của Donald Goergen tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẽ đến các chủng sinh và các tu sĩ. Goergen cho rằng thủ dâm không phải là “sai trái về bản chất.” (38) Goergen tin rằng đối với một số người, thủ dâm có thể là sự chín chắn và hòa hợp, còn đối với số khác lại là không chín chắn và không hòa hợp. Hành vi thủ dâm ở các em vị thành niên cũng như những hình thức thủ dâm ở những người lớn, theo ông ta, có thể xem là lành mạnh và không có hại. Đối với người độc thân, thủ dâm không có tội và cũng không sai trái gì nhưng nó không mang lại một lợi ích nào cả. Ông ta lặp lại: “Thủ dâm là một yếu tố trong đời sống của người độc thân phản ảnh một nhu cầu tình dục mà ông ta hy vọng thói quen này khi lớn lên rồi sẽ hết, không phải bởi vì nó không phù hợp mà vì nó không nó không có ích gì cho người đó trong cuộc sống độc thân. (39)

Mặc dù quan điểm của Goergen đối nghịch với giáo huấn của Hội Thánh về tính đạo đức của thói thủ dâm và về ý nghĩa của đức thanh sạch được thánh hoá, nhưng quan điểm ấy đã ảnh hưởng đến nhiều chủng sinh và các tu sĩ từ khi nó được xuất bản. Tôi sẽ trở lại với tác giả này sau. Giờ đây, tôi quan tâm đến những chủng sinh, những người muốn vượt qua thói quen thủ dâm.

Với những nguyên tắc đã áp dụng cho người độc thân, chúng cũng được áp dụng cho các chủng sinh với điểm khác biệt sau: Các chủng sinh đã cam kết sống độc thân còn người giáo dân có thể tìm đến hôn nhân. Các chủng sinh có thể sợ rằng anh ta không có khả năng sống độc thân vì khó khăn hiện tại mà anh ta gặp phải, anh ta cũng nên xem xét khả năng rời khỏi chủng viện hoặc đời sống tu trì. Trước khi quyết định như thế, anh ta nên nhận thức rằng anh ta cần được tham vấn cả với nhà tâm lý lâm sàng lẫn với linh mục giám quản, người được phép hội ý với người khác liên quan tới trường hợp của chủng sinh. Thật không cẩn trọng chút nào nếu vị linh mục giám quản và nhà tâm lý không phối hợp làm việc với nhau như đã thường xảy ra trước đây, gây nên những kết cục đau buồn.

Và cũng không khôn ngoan nếu các vị linh hướng của chủng viện, ban đào tạo của dòng tu không có một sách lược rõ ràng liên quan đến đức khiết tịnh nội tâm, bao gồm cả đòi hỏi tình trạng không mắc phải thói thủ dâm để được thụ phong và tuyên khấn. Vị linh hướng trong chủng viện cần xem xét kỹ lưỡng tiểu sử những cá nhân gặp vấn đề với những cám dỗ ám ảnh dẫn tới thủ dâm. Những cám dỗ này có thể không hẳn là những ham muốn thông thường và sẽ không có cách gì để hiểu được chúng nếu không dựa vào một số cách thức tham vấn. Đôi khi nếu một cá nhân không chắc chắn về ơn gọi của anh ta, anh ta có thể sẽ bị nhấn chìm trong thế giới khiêu dâm. Có lẽ anh ta nên hướng động lực vào nguồn gốc của ơn gọi.

Mỗi hoàn cảnh sẽ khác nhau. Nếu vị linh hướng hoặc nhà tâm lý hoặc chủng sinh còn hoài nghi về ơn gọi, có lẽ một năm vắng mặt khỏi chủng viện với một công tác mục vụ nào đó sẽ có ích lợi. Vào cuối thời kì ấy, việc đánh giá kết quả sẽ lại được thực hiện. Nên nhớ rằng bất cứ chương trình đào tạo của chủng viện hay dòng tu nào cũng không thực sự đối nghịch với thế giới thường ngày. Đó là cuộc sống trong một môi trường tương đối được bảo vệ, nơi mà trí tưởng tượng hoạt động không ngừng, nơi các trở ngại thông thường của cuộc sống được soi kỹ, nơi mà các khó khăn tình cảm có thể trở thành nỗi ám ảnh. Trong những tình huống như thế, chẳng có gì lạ khi trí tưởng tượng bị vuột khỏi tầm kiểm soát, khơi dậy những hình ảnh tình dục và cám dỗ thủ dâm.

Để tóm tắt những suy nghĩ của tôi về các chủng sinh và các tu sĩ đang được đào tạo, tôi tin ngày nay chúng ta có những phương cách tốt hơn để tống khứ thói thủ dâm. Chúng ta đã nhận ra lợi ích của nhóm hỗ trợ tinh thần trong cố gắng giúp cá nhân trở nên thanh sạch. Chúng ta đã có cái nhìn vượt lên trên hành vi thủ dâm kể cả nguyên nhân của nó. Là những người linh hướng, chúng tôi nhìn con người theo cách toàn diện. Mặt khác chúng ta lưu ý khi một cá nhân có những tiến bộ đáng kể sau một thời gian vượt qua cám dỗ thủ dâm, chúng ta nên khuyến khích anh ta tiếp tục. “Tiến bộ”, không chỉ là việc tránh xa thói thủ dâm mà còn bao gồm một sự chuyển biến cái nhìn, thái độ của ngưòi đó về tính dục, một thái độ chấp nhận bản chất thể xác của con người, và một sự hòa hợp của ham muốn tình dục với nhận thức về vai trò của người đó trong đời sống linh mục hoặc tu sĩ, điều mà William F. Lynch gọi là “sự thăng hoa của những ham muốn tình dục.”

Mặt khác, nếu chúng ta nhận thấy cố gắng của cá nhân không dẫn đến tiến triển nào để vượt qua thói ấy, ngay cả sau khi tham vấm tâm lý, thì có lẽ chúng ta nên khuyên anh ta từ bỏ đời sống tu sĩ hoặc chủng sinh. Nếu không tiến bộ, điều đó sẽ làm gia tăng mối hoài nghi về ơn gọi tu sĩ. Mối hoài nghi ấy cần được giải quyết vì lợi ích của Giáo Hội từ một cá nhân.

13. Thủ dâm trong giới linh mục và nam tu sĩ
Nói chung, những cám giỗ của thói thủ dâm trong giới linh mục và tu sĩ liên quan đến những yếu tố tình cảm như là nỗi cô đơn, chán ghét bản thân, tức giận và những vấn đề liên quan với quá khứ. Họ có thể xem những cám dỗ này không đến nỗi đáng sợ như những người chưa được chịu chức linh mục hay tuyên khấn trọn đời bởi họ đã có một biện pháp an toàn nào đó rồi. Tuy nhiên, họ thường cảm thấy họ đang sống hai mặt. Được biết đến như những người độc thân và cùng làm việc với mọi người hàng ngày, nhưng họ vẫn cảm thấy xấu hổ khi phạm thói thủ dâm, và thường thì không thể cưỡng lại được thói quen này. Nhiều người trong số họ bị ảnh hưởng bởi môi trường sống ngập tràn hình ảnh tính dục mà chúng ta đang sống hiện nay. Ví dụ, chẳng có gì là lạ khi một tu sĩ hay một linh mục khi họ bật TV lên lại bắt gặp một cuốn phim với những hình ảnh kích thích tình dục trước khi đi ngủ sau một ngày mệt mỏi vì công việc. Những tác động đó dẫn tới hành vi thủ dâm và quấy phá giấc ngủ.

Dĩ nhiên, điều này cũng xảy ra với những giáo dân bình thường, những người lỡ sa vào thế giới tưởng tượng khêu gợi của truyền hình. Điều cần thiết là phải thực sự nghiêm túc tránh xa những kích thích tình dục không cần thiết và cố gắng sống trong thực tại. Người đó cần hình thành và tuân theo một khuôn phép, một thói quen xưng tội mỗi tuần hoặc hai tuần một lần. Hơn thế nữa, có một số linh mục và nam tu sĩ đã đều đặn tham dự những buổi họp nhóm trợ giúp tâm linh như nhóm S.A để từ bỏ hành vi tình dục của họ.

14. Vấn đề thủ dâm trong giới nữ tu sĩ
Những yếu tố dẫn đến thói quen thủ dâm trong giới nữ tu không khác biệt lắm so với những những phụ nữ độc thân, có gia đình hay ly dị. Có một yếu tố cũng tương tự như vấn đề thủ dâm ở các nam tu sĩ, đó là sự thiếu chín chắn về tình cảm. Trong thực tế, nghĩa là những cá nhân này chưa trưởng thành về mặt tình cảm trong tương quan với người khác phái và cũng như các trẻ vị thành niên, họ dễ dàng bỏ nhiều thì giờ vào việc tưởng tượng và có khuynh hướng thủ dâm như một kết cục. Thế nhưng cũng như các nam tu sĩ, chỉ số – mức độ của tội tăng lên với nhận thức khi các nhân ấy đang sống một cuộc sống hai mặt.

Không như các nam tu sĩ, dường như họ ít khi vượt qua giới hạn để đi quan hệ với người khác. Điều này có kẽ do các nam tu sĩ có nhiều khoảng thời gian trống hơn các nữ tu và có ít trách nhiệm cộng đồng hơn các nữ tu. Tuy nhiên có nhiều dòng tu (ở Hoa Kì và các nước phương Tây) chấp nhận cho họ ăn mặc như người đời, theo đuổi sự nghiệp, sống trong những căn hộ, khi ấy họ có thể bắt đầu có liên hệ tình cảm với những người khác. Theo cách đó, sự liên tưởng đến tình dục càng tăng và nếu thiếu cầu nguyện, họ có thể cảm thấy khó cưỡng lại hành vi thủ dâm. Vì e sợ hoạt động tình dục với người khác nên họ giải quyết bằng cách tưởng tượng và thủ dâm. Một số khác sống trong những dòng tu kín tách biệt, có những thói quen truyền thống, không có ai để thổ lộ tâm tư trừ vị linh mục linh hướng. Nỗi cô đơn như thế là mảnh đất màu mỡ cho những liên tưởng tình dục. Dĩ nhiên có những yếu tố khác ví dụ như bị thương tổn hồi còn bé, sự cô đơn, tức giận và tự ti.

15. Đồng tính luyến ái và thủ dâm
Có nhiều điểm cần được làm rõ. Thứ nhất, ta cần xem xét hình thức tưởng tượng nào dẫn đến hành vi thủ dâm ở những người ĐTLA. Hình thức tưởng tượng này có liên quan gì đến giai đoạn  còn trẻ con hay vị thành niên không? Khi tưởng tượng, họ có hay nghĩ đến những hình ảnh bạo dâm hay không, ví dụ như bị người khác đánh đập, hoặc gây ra thương tích cho người khác? Nếu đúng như vậy, họ cần phải được điều trị chuyên khoa. Thứ hai, nếu người đó tự nhận mình là người song tính vì anh ta đã trải nghiệm tình dục với cả hai phái, ta nên giúp anh ta suy nghĩ về thói quen, cách thức mà anh ta tưởng tượng. Nếu sự tưởng tượng của anh ta chủ yếu hướng về người khác phái (heterosexual), thì anh ta có cơ hội mang khuynh hướng tình dục với người khác phái. Ngược lại, nếu sự tưởng tượng của anh ta chủ yếu hướng đến tình dục đồng tính, ở gian đoạn ấy, anh ta sẽ gắn bó với khuynhh hướng đồng tính. Tôi đã kiểm chứng nhận định này bởi vì những trẻ vị thành niên hay tơ tưởng về người cùng phái có thể thoát ra khỏi hình thức tưởng tượng này trong quá trình lớn lên, đặc biệt là với sự trợ giúp của phương pháp trị liệu.(41)

Tôi nghĩ rằng những người có khuynh hướng đồng tính gặp nhiều khó khăn trong vấn đề thủ dâm hơn những người có khuynh hướng dị tính. Những người đồng tính thường không chấp nhận rằng mình có khuynh hướng này, đôi khi họ thu mình vào một cuộc sống tưởng tượng cao độ với thói thủ dâm không thể cưỡng lại được. (42) Đã thế, anh ta sợ thú nhận khuynh hướng giới tính của mình với người khác nên xem thủ dâm là cách thay thế an toàn, đặc biệt trong thời đại ngày nay khi hiểm họa AIDS bùng nổ. Hơn thế nữa, do những cá nhân ấy khó tìm được cho mình tình bạn và sự thân mật như những người có khuynh hướng giới tính với người khác phái nên chẳng có gì lạ khi họ dễ mắc phải thói thủ dâm. Tuy nhiên thói thủ dâm làm cho những người có khuynh hướng đồng tính từ chỗ dễ bị tổn thương biến thành những người lang chạ bừa bãi. Ban đầu là tưởng tượng và tự thỏa mãn – thủ dâm, sau đó là lui tới những chỗ hấp dẫn, tìm bạn tình để qua đêm. Vì thế trong những cuộc thảo luận nhóm, những người đồng tính thường nhấn mạnh sự nghiêm trọng của vấn đề này. Khi chiến đấu để giữ mình trong sạch, họ đã gặp phải thất bại như thế khi sa vào thói thủ dâm.

Trong thời đại của dịch AIDS hiện nay, hành vi thủ dâm lẫn nhau giữa hai người đã trở thành một hình thức được gọi là “tình dục an toàn”. Có thể nó an toàn về mặt y khoa, nhưng nó phá hủy mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa, đồng thời ngăn cản con người, không làm con người trở nên hoà nhập về giới tính trong mối tương quan với chính mình. Ngay cả khi thói quen thủ dâm là hành vi không tự nguyện, nó vẫn biểu hiện sự thiếu thống nhất trong con người. Dù là tự nguyện hay không, hành vi thủ dâm gây ra những cảm giác tội lỗi và xấu hổ nơi bản thân người đó. Thế nên, điều cần thiết là phải tìm hiểu những cảm giác này.

16. Tội lỗi và sự hổ thẹn trong tất cả những hình thức thủ dâm
Chúng ta nên phân biệt hai loại tội khác nhau, một loại tác động đến thần kinh và một loại không tác động. Ví dụ khi tôi tự do làm một việc sai trái, tôi cảm thấy tội lỗi vì đã không tuân theo luật Chúa vốn đã được ghi khắc trong con tim tôi (như Rm 2,15). Tuy nhiên, nếu tôi từ chối không cho tiền một người nghiện rượu để anh ta mua một ly wishky và cảm thấy có lỗi vì không nghe lời cầu xin của anh ta, tôi cảm nhận một mức độ tội lỗi tác động đến thần kinh. Cũng giống như khi trẻ con cảm nghiệm về tội khi chúng thấy cha mẹ sắp ly dị và cho rằng đó là do lỗi của chúng. Tương tự như thế, khi thắc mắc về thói thủ dâm, nhiều người đã tự hành hạ mình một cách không cần thiết. Tôi muốn nói đến những người đang sống tốt nhưng chỉ mắc mỗi tội là thủ dâm. Người linh hướng hoặc tham vấn cần biết những khó khăn mà họ đã gặp phải. Cần làm sáng tỏ cho cá nhân ấy biết rằng anh ta không tự do ưng thuận với sự thôi thúc dẫn đến hành vi thủ dâm.

Sẽ không là tội trọng nếu như cá nhân đó thủ dâm trong tình trạng không ý thức, ví dụ như khi người đó đang ở trạng thái nửa tỉnh nửa mê khi ngủ, hay khi anh ta bị đưa đẩy bất chợt  bởi đam mê và nhận thấy mình đang phạm vào hành vi đó dù có ý muốn cưỡng lại nó. Đây là một trong những hậu quả của tội nguyên tổ khi đam mê của loài người thường hay vượt qua hành động của ý chí (Rm 7, 1-20). Người đó có thể chấp nhận lý lẽ này, thế nhưng trong tim anh ta vẫn cảm thấy mình mắc tội vì nghĩ rằng: “Nếu tôi cố gắng hơn nữa, tôi đã không tưởng tượng quá nhiều, đáng lẽ tôi phải loại bỏ những ý nghĩ không trong sáng.”

Sự khúc mắc trong cảm giác của loại tội này là người ta cho rằng con người có thể kiểm soát hoàn toàn những đam mê không chỉ những ham muốn mà cả tính tham lam, sự tức giận và những cảm xúc rối loạn khác. Chúng ta biết rằng chúng ta không có khả năng kiểm soát như thế. Tuy nhiên cá nhân nào mắc phải thói thủ dâm, cần tin rằng nhờ ơn Chúa, người ấy có thể vượt qua thói quen này. Nhưng nó đòi hỏi phải kiên trì tham gia một chương trình tâm linh. Có khi phải tham vấn tâm lý, về điểm này tôi sẽ nói đến sau. Theo kinh nghiệm mục vụ của tôi, cảm giác tội lỗi luôn đi đôi với thói thủ dâm, tuy nhiên, cũng có một cảm giác khác đó là sự hổ thẹn, khác với cảm giác tội lỗi.

17. Sự khác biệt giữa hổ thẹn và tội lỗi
Sự xấu hổ đi xa hơn tội lỗi ở chỗ tội lỗi chỉ liên quan đến cảm xúc và sự phán xét mà người đó đã đi ngược lại lương tâm nên anh ta hối tiếc vì đã hành động sai, trong khi đó sự hổ thẹn là cảm thấy mình không tốt, vô dụng, và không thể kiểm soát được hành vi của mình. Cảm xúc chán ghét bản thân cực độ là nguồn gốc của thói thủ dâm do thôi thúc, không thể cưỡng lại (compulsive behavior). Có lẽ thói thủ dâm do thôi thúc là hình thức nghiện tình dục phổ biến hơn cả vì nó rất dễ thực hiện, có thể đáp ứng trong thời gian dài và bí mật, bề ngoài không gây ra những tác hại xã hội. Thật ra nó đã bị gạt đi như một vấn đề không quan trọng. E. Michael Jones gọi nó là “sự đồi bại dễ tiếp cận nhất.”(43)

18. Thêm một vài đề nghị để vượt qua thói thủ dâm
Như đã mô tả vài hình thức phổ biến của thủ dâm, và bỏ qua một vài hình thái khác, tôi tiếp tục đưa ra những đề nghị mục vụ mà một số người tham vấn cảm thấy có ích. Khi đưa ra những điều này, tôi nhận thấy không thể không có những chỉ dẫn sai, đôi khi mặc dù đã chăm chỉ áp dụng những đề nghị như thế, những cá nhân này có thể đôi khi rơi lại vào khuynh hướng vốn đã bám rễ quá sâu vào con người họ. Khi tiếp cận mục vụ một cá nhân mắc thói thủ dâm, điều cần thiết là phải hiểu trong hoàn cảnh cuộc sống của cá nhân đó, vì trong đó ẩn chứa nguyên nhân cốt lõi. Thủ dâm ở lứa tuổi trẻ con thì rõ ràng khác với trẻ vị thành niên hay người lớn, và giữa người lớn lại có sự khác nhau, mỗi loại đòi hỏi một cách tiếp cận mục vụ khác nhau.

Đối với trẻ em: Dù lý do có thế nào đi nữa, không chắc người tham vấn có thể ứng phó trực tiếp với những đứa trẻ chưa có khả năng nắm bắt vấn đề luân lý như người lớn. Tuy nhiên, các phụ huynh có trách nhiệm phải chắc chắn con mình không tự hại bản thân chúng bởi việc thủ dâm thường xuyên. Andre Guidon trích dẫn từ những người có uy tín, họ tin rằng việc thủ dâm quá nhiều gây ra những đòi hỏi cao độ trong tâm hồn và hệ thống thần kinh. Ông ta cũng lưu ý rằng, nó cũng làm tổn hại tâm lý tương tự như ở lứa tuổi thiếu niên. Ông ta kết luận rằng nếu làm ngơ thói thủ dâm “nhiều lần và xảy ra trong thời gian dài”, đặc biệt là các em ở độ tuổi từ 6 cho đến dậy thì, mà không tham khảo ý kiến của các chuyên gia tâm lý thì đó là một sự vô trách nhiệm về đạo đức.” (44)

Thông thường, vấn đề thủ dâm ở trẻ không đòi hỏi phải thực hiện tham vấn tâm lý đứa trẻ đó, nhưng phụ huynh mới là người cần hướng dẫn để có thể chấp nhận một cách điềm tĩnh hành vi thủ dâm đôi khi xảy ra ở trẻ và nhận ra trong số những nguyên nhân chung dẫn đến hành vi này đó là khát khao được thương yêu của trẻ. Sau hết, trẻ phải được chỉ dạy đầy đủ cách giữ vệ sinh thân thể (để tránh gây ra những khó chịu cho hệ sinh dục nếu cơ thể không được chăm sóc sạch sẽ).

19. Tham vấn mục vụ cho trẻ vị thành niên
Vì tôi đã đề cập đến cách tiếp cận vấn đề này đối với các thiếu niên ở trên, nên tôi chỉ thêm vào vài suy nghĩ sau đây. Một là thế giới tưởng tượng dồi dào của trẻ vị thành niên và ham muốn trải nghiệm khoái cảm tình dục của chúng. Áp lực của nhóm bạn đồng trang lứa buộc đứa trẻ phải trải nghiệm hành vi thủ dâm cũng là một trong những yếu tố tác động lên các em trai nhiều hơn các em gái. Hơn nữa, các em trai có khuynh hướng dành thì giờ để tưởng tượng nhiều hơn. Có thể ứng phó với việc này bằng cách giúp em ấy thoát ra khỏi thế giới ảo tưởng và trở lại thế giới thực nơi em có thể thiết lập tình bạn thật sự. Chẳng dễ dàng gì nếu nhìn vào nền âm nhạc đang nuôi dưỡng các bạn trẻ bằng tưởng tượng, có lẽ các bạn trẻ cần một môi trường có tổ chức và đòi hỏi cao trong việc học và chơi để giúp chúng sống trong thực tại.

Nếu các em được cha mẹ hoặc người ủy nhiệm giáo dục giới tính đúng cách về những hiện tượng cơ thể bắt đầu xuất hiện khi dậy thì, thì các em sẽ thấy mình cũng có chung những vấn như người khác. Trong lĩnh vực này, nếu không được chỉ dẫn, các em có thể nghĩ rằng không có ai giúp chúng xử trí với vấn đề như vậy. Các em cần phải hiểu rằng người ta không thể phạm tội thủ dâm một cách tình cờ. Nó liên quan tới ý thức và tự do khi người ta có hành vi như vậy. Nếu một người thành tâm và biết chăm lo đời sống tinh thần, và vì yêu Chúa, người ấy sẽ không chấp nhận hành vi thủ dâm. Trong viễn cảnh rộng hơn, khi kiểm tra mối tương quan với Thiên Chúa thì có thể xem xét hành vi ấy thế này: “Nếu một cá nhân có đời sống tinh thần tốt đẹp và lành mạnh, thì có thể an tâm cho rằng không có sự ưng thuận hoàn toàn với hành vi đó và do đó không mắc tội trọng, thậm chí nếu cá nhân đó có làm điều gì mà người khác gọi là “nghiêm trọng.” (46)

Cũng cần phải nhắc lại những nguyên tắc luân lý liên quan đến chủ ý tốt của mỗi người. Không phải lúc nào chúng cũng dễ nhận ra, không phải chỉ ở những người trẻ mà cả người lớn. Sau đây là một vài điểm:

Cảm xúc bộc phát không phải là tội. Việc một người chiến đấu chống lại những tưởng tượng trong tâm trí về tình dục cho thấy người đó không hoàn toàn ưng thuận hoặc nếu có thì chỉ phần nào và sự giả định nghiêng về phía không ưng thuận.

Người được tham vấn cần nhận ra một mối tương quan rất gần giữa trạng thái trầm cảm, sự tức giận, nỗi cô đơn và sự tưởng tượng tình dục, cám dỗ thủ dâm. Trong những lúc như thế, người đó cần nỗ lực bằng cả lý trí và con tim để đưa mình trở lại thế giới thực, và nhất là cố gắng tập trung vào nhu cầu của những người khác xung quanh mình. Như đã đề cập ở trên, cũng cần nhắc lại một điều là khi những hình ảnh tưởng tượng bắt đầu xuất hiện trong trí, bạn nên cố gắng thoát ra khỏi chúng bằng cách tham gia vào những hoạt động chân tay bên ngoài để đập tan sức quyến rũ của sự tưởng tượng. Nói vắn tắt, chúng ta cần phải rèn luyện thường xuyên để vượt qua những hình ảnh tưởng tượng nhất là những khi ta bắt đầu tỉnh giấc. Tôi đã khám phá ra rằng những đề nghị của tôi về việc sống thực tại đã giúp ích rất nhiều cho những người đang cố gắng vượt qua thói thủ dâm. Chúng cũng rất hữu ích đối với những người mắc thói thủ dâm không cưỡng lại được (nghiện), nhưng như chúng ta đã nêu, để vượt qua bất cứ một sự thôi thúc nào (do nghiện), đòi hỏi người ấy phải kiên trì thực hiện 12 Bước, bao gồm việc tham gia một nhóm trợ giúp tinh thần, ví dụ như nhóm Những người nghiện tình dục ẩn danh (S.A).

Các bạn trẻ phải được nhắc nhở về việc đạt đến đức khiết tịnh (trong sạch) như một công việc của cả đời người, và Chúa sẽ không ban ơn chữa lành tức thì cho những yếu đuối của con người, mặc dù trong vấn đề về đức khiết tịnh, chúng ta có thể nghĩ rằng Ngài sẽ làm chúng ta hoàn thiện ngay lập tức. Trong vài trường hợp, dường như Chúa tiếp tục ban ơn để ta cố gắng làm lại từ đầu, bất chấp những thất bại liên tục trong quá khứ. “Thật ra ta có thể chắc chắn rằng đức khiết tịnh toàn hảo – cũng như đức bác ái toàn hảo – không thể đạt tới nếu chỉ dựa vào sức con người. Bạn phải nài xin Chúa giúp. Thậm chí khi bạn đã xin, có thể sẽ chẳng có gì xảy ra hoặc xảy ra ít hơn điều bạn cần. Không sao cả. Sau mỗi lần thất bại, hãy cầu xin Ngài tha thứ, hãy tự nâng mình dậy và cố gắng lại lần nữa. Thường thì những gì Chúa giúp ta lúc đầu bản thân nó không phải là phẩm hạnh, nhưng đó chính là sức mạnh để ta cố gắng lại lần nữa. (47)

Nhờ những kiến thức về vấn đề thủ dâm ở nam giới với ảnh hưởng của nó lên hành động thể lý và sự giải phóng sức ép tình dục nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi thói thủ dâm phổ biến ở các thiếu niên nam hơn là các em nữ. Do bản chất tự nhiên về giải phẫu học của sinh lý nữ, sự lan tỏa của vùng nhạy cảm tình dục, năng lực tình dục của người nữ khi đã có tuổi, cách nhìn lãng mạn hơn về giới tính là tất cả những lý do giải thích tại sao các em nữ không bị thủ dâm cám dỗ như các em nam. Các thiếu niên nữ dường như ít hiểu ý nghĩa của các phản ứng cơ thể hơn các em nam, do vậy hành động thủ dâm của các em nữ có thể gián tiếp và được che đậy mà không nhận ra sự sai trái của hành động ấy.(48) Tuy nhiên, với phim ảnh, sách báo khiêu dâm sẵn có khắp nơi, các bạn trẻ nam cũng như nữ đều có thể tiếp cận những thứ tạo ra khoái cảm nhục dục. Âm nhạc kích động và những lời hát khiêu khích, gọi mời đã thấm vào các em từ khi mới lớn.

Thế nên khi tham vấn những em gái, người tham vấn tiếp cận với cả hai đối tượng, nhóm thứ nhất là những em đã hình thành thói quen này mà không hiểu bản chất của nó, nhóm còn lại biết mình đang làm gì nhưng cảm thấy không thể kiểm soát được nó. Nhóm thứ hai là những em cần giúp đỡ để đối phó với sự thúc ép của ham muốn như tôi đã trình bày ở trên. Sẽ có ích cho nhóm thứ nhất nếu tiếp cận một cách gián tiếp, cụ thể là giúp họ nhìn lại toàn bộ cuộc sống của họ. Thói thủ dâm ở các em gái là triệu chứng của những rối loạn, trục trặc với gia đình hay bạn bè đồng trang lứa, tuy đó chỉ là những biểu hiện bên ngoài. Thế thì không thể thiếu những cách thức để tránh thủ dâm như đã đề cập ở trên. Các em gái nên được chỉ bảo làm sao để dung hòa những mối quan hệ với những người xung quanh, nhất là với gia đình và có lẽ đây là lần đầu tiên, các em cần nhận thức về chính bản thân mình. Phương pháp gián tiếp như thế đòi hỏi phải có thời gian, nhưng khi trải qua một quá trình, các em sẽ thu lượm được nhiều điều.

20. Cái nhìn xuyên suốt đối với những người đang bị vấn đề thủ dâm đè nặng
Sẽ bị lặp lại nếu cho rằng những người trưởng thành mắc thói thủ dâm là do có xu hướng yêu bản thân quá độ, quá chú trọng đến vẻ đẹp hình thể của mình. Họ cần phải đối mặt với chuyện này và vượt qua nó. Đôi khi cũng cần đến những biện pháp đặc trị. Như đã trình bày, người đó cần thay đổi thói quen sống, việc này có thể thực hiện hiệu quả nhất nhờ sự linh hướng đúng đắn. Nó đưa chúng ta đến việc xem xét những ảnh hưởng tinh thần của thói thủ dâm, một khía cạnh hiếm khi được nói tới. Tuy vậy, Tiến sĩ William Kraft và Lm. Bernard Tyrrell đã làm sáng tỏ khía cạnh này. (49)

Kraft cho rằng thông điệp của hành vi thủ dâm đó là đời sống xã hội, cuộc sống tình cảm, thể chất và tinh thần của cá nhân chưa hòa hợp với nhau. Từ những thí nghiệm lâm sàng rộng khắp, ông ta hiểu được sức quyến rũ tự nhiên của thủ dâm, vì đó là cách dễ dàng giảm bớt căng thẳng nội tâm cũng như để khám phá cảm xúc tình dục mà không liên lụy đến những mối quan hệ với người khác. Sự tưởng tượng dẫn đến những hành vi như thế luôn bí mật an toàn. Vì thế người ta không sống trong thực tại mà sống trong thế giới của những người không thật, “nơi mà mọi thứ đều có thể xảy ra và chẳng còn gì là giới hạn nữa.”

Kraft cũng vạch ra một điểm quan trọng là hành vi thủ dâm ở người lớn thường khơi dậy từ những trải nghiệm không liên quan đến tình dục, vì thế nó liên quan đến những vấn đề còn hơn cả việc thỏa mãn tình dục. Những người này thường có xu thường thủ dâm vì “chán chường, lo âu và cô đơn.” (51) Đó là dấu hiệu của sự thiếu chín chắn mà những người “lớn” này tìm kiếm sự thân mật với những người trong thế giới mà họ tưởng tượng thay vì vươn ra thực tại với những con người thật. Tính dục của nhân loại được hoạch định theo hướng khác, đó là việc biểu lộ tình yêu và sự thân mật cho người khác trong cộng đồng.

Kraft thấy rằng những ai “sống bằng trí não nhiều, từ phần cổ trở lên”, là những ứng viên của thói thủ dâm do sự khao khát được sống “từ phần cổ trở xuống.” Vì họ không hay biểu hiện qua hành động cơ thể  trong cuộc sống hàng ngày nên thói quen ấy gây ra những bức bách mà họ nghĩ dùng hành vi thủ dâm có thể giảm bớt. Nếu những người như vậy (thường là các tu sĩ hoặc người độc thân) dùng cách thức này để giải tỏa một cách tạm thời nhưng điều đó không giúp họ trưởng thành trong tinh thần. Một số người khi biện minh cho thói thủ dâm đã đi quá xa khi tuyệt đối hóa sự biểu hiện bằng hành vi đến độ phải trả giá bằng sự thật. (52) Trong tiểu sử sử cá nhân của những người này, chúng ta nhận thấy có một thời kỳ dài họ đã kềm nén những ước muốn cảm xúc. Phản ứng tương tự như thế cũng có thể tìm thấy ở những tu sĩ nghiện công việc. Thế nên, thử thách của họ là phải vượt qua thói thủ dâm để tiến đến việc tái cấu trúc đời sống để sao cho hòa hợp hơn. Trong nền văn hóa ngập tràn tính dục của chúng ta, đó không phải là chuyện nhỏ.

Kraft đề xuất một chương trình tương tự như nhóm Những người nghiện rượu ẩn danh (A.A) trong đó ông ta nhấn mạnh đến việc ép xác: “Đôi khi sự ép xác cũng cần thiết để có thể giảm bớt đòi hỏi thỏa mãn nhục dục…Không như những người nghiện rượu với cơ thể thèm khát một thức uống, người mắc thói thủ dâm phải học cách nói “không” vì một sự xác quyết lành mạnh.”(53) Ta có thể nói thêm rằng nhóm Những người nghiện tình dục ẩn danh (S.A) cũng đã nhấn mạnh đến việc từ bỏ thói thủ dâm bằng cách thực hiện chương trình 12 Bước.

Trong quá trình đạt đến sự hòa hợp tính dục lý tưởng, có một mối nguy đón là khi ta trở thành nạn nhân của ảo tưởng “ nếu tôi thấu hiểu chính mình thì tôi có thể thay đổi cảm xúc và hành vi của mình.” Nếu suy nghĩ như thế, người đó đã đánh giá thấp sức mạnh thói quen này bởi cơ thể ta đã được đặt định để hướng tới việc làm dịu những trải nghiệm. Thủ dâm có thể đã trở thành một phần đáng kể trong hành vi theo thói quen của một người nên việc xóa bỏ nó sẽ để lại một nỗi trống trải to lớn và phải được lấp đầy bằng cách nào đó. Tôi đề nghị bạn hãy cảm nghiệm mối tương quan đích thực với Chúa trong lời cầu nguyện và với người khác bằng tình bạn, như vậy sẽ lấp đầy nỗi trống trải ấy.

Trong chương trình 12 Bước được thiết kế cho những người nghiện tình dục, điều được nhắc đi nhắc lại đó là ý định tốt đẹp và sức mạnh ý chí sẽ không đủ để vượt qua thói này. Việc triệt tiêu bằng cách cắt đứt lập tức những cơn ham muốn tính dục, việc ép xác, và làm thăng hoa những khao khát tình dục là những cách tích cực để hòa hợp bản năng tình dục của chúng ta. Cũng bằng cách quy phục đời sống chúng ta vào bàn tay Chúa qua quyết định của ý chí, ơn cứu độ của Chúa sẽ giúp chúng ta tìm được thân mật đích thực thay cho sự thỏa mãn xác thịt. Nhưng tất cả mọi việc này đều phải tốn thời gian.

Ở cấp độ tức thời, người mắc thói thủ dâm cần theo dõi, kiểm tra tâm trạng của mình để có thể ghi lại những kiểu cách mà trí tưởng tượng và hành động thủ dâm thường lặp lại theo chu kì. Người đó cần chuyển hướng cảm xúc và tâm trạng vốn hay dẫn đến hành vi thủ dâm. Việc này sẽ giúp người đó tránh hành vi này. Vì giờ đi ngủ là thời điềm khó khăn đối với anh ta, nên anh ấy cần học cách tránh việc tưởng tượng. Sức ép và căng thẳng trong thời khắc ấy có thể tránh khỏi bằng cách thư giãn nhiều hơn vào những lúc khác trong ngày và có thể lấp đầy tâm trí lúc trước khi ngủ với những cảm hứng từ việc đọc sách. Sẽ không tốt nếu cố gắng ngủ trong tình trạng căng thẳng. Những hình ảnh tưởng tượng tình dục thường bao vây người ấy trong tình thế này.

Trong thời đại của truyền hình cáp và phim ảnh thâu đêm suốt sáng như HBO, những người dễ vướng vào khuynh hướng thủ dâm cần tránh những loại phim ảnh này như tránh dịch bệnh. Cám dỗ là ở chỗ người ta hợp lý hóa những sản phẩm này dướ tên gọi của văn hóa. Họ có thể làm như vậy mà không cần những sản phẩm cổ súy cho khiêu dâm.

Một lĩnh vực nghiên cứu chưa được khai phá, đó là mối liên hệ giữa loạn luân, lạm dụng tình dục và khuynh hướng thủ dâm ở người lớn. Tôi hầu như chẳng nghi ngờ gì khi những nạn nhân của việc lạm dụng tình dục hoặc loạn luân có nhiều vấn đề về tình dục khác nhau. Tôi tin rằng một trong số họ đã sớm rơi vào một trong những hình thức thủ dâm. Những con người như thế cần được các linh mục Công giáo giúp đỡ rất nhiều.

Bài viết của Lm. Bernard Tyrell, về cơ bản là một bài phê bình cuốn Sexual Celibate của Lm. Donald Goergen, cũng đã làm sáng tỏ vấn đề này. Ngài chỉ ra rằng Goergen đã không nêu ra được khía cạnh thần học của tình trạng độc thân thánh hiến và thói thủ dâm nơi các tu sĩ phải được xem như việc đi ngược lại đời sống tuyên khấn khiết tịnh. Ngài ám chỉ rằng lỗi căn bản mà những người đã tuyên khấn cảm nghiệm khi họ thủ dâm là hệ quả của sự tưởng tượng và những ước muốn có liên quan. Có lẽ rõ hơn nếu nhìn theo quan điểm tâm lý và theo lẽ thường. Đối với những người độc thân đã tuyên hứa này, nếu họ chủ tâm ấp ủ những hình ảnh tưởng tượng về tình dục và những thứ tương tự như thế, thì hành động thủ dâm là mâu thuẫn giữa việc họ tự nguyện tuyên hứa sống độc thân và lối sống trong thực tế của người đó.(55)

Vì lý do này mà Tyrrell đã không đồng tình với giả thuyết của Goergen về hành vi “thủ dâm mà không mắc tội” của những người độc thân đã tuyên khấn. Việc chấp nhận đời sống độc thân toàn tâm toàn ý không thể nào tương thích với sự tầm thường của thói thủ dâm nơi một tu sĩ. Đây là một vấn đề nghiêm trọng, dù cho cá nhân đó có thể không mắc tội trọng vì thiếu sự chú tâm rèn luyện ý chí vốn thường thấy nơi những người mắc thói thủ dâm do thúc ép. Dù sao đi nữa, những cá nhân này bắt buộc phải áp dụng những biện pháp để từ bỏ thói quen này. Với nỗ lực như thế, ơn Chúa luôn tràn đầy.

21. Kết luận
Vấn đề thủ dâm là một thiếu sót trong công tác mục vụ tại của Giáo Hội tại Hoa Kỳ. Do xem thường vấn đề này nên người ta đã phớt lờ những con số dữ liệu của các nhà tham vấn và các vị linh hướng có uy tín. Các nhà tham vấn trong lĩnh vực tham vấn về ma tuý và chứng nghiện tình dục nhấn mạnh rằng thân chủ của họ hay tìm cách thoát ra sự thôi thúc hay những thói quen đang nuôi dưỡng những đam mê của họ. Ts. Kraft xem nó như một trở ngại nghiêm trọng cho sự hòa hợp giới tính. Đã tới lúc những vị linh hướng và những linh mục giải tội cần học hỏi những đồng nghiệp chuyên gia ngoài đời, và thêm vào những kiến thức ấy là sự khôn ngoan của giáo huấn Giáo Hội qua các thời kì.

Các tài liệu tham khảo
(xem http://couragerc.net/Masturbation.html#RECOBJ7DB11314122C1C19)

Copyright 2011 Courage Apostolate